Sáu sai lầm nhà lãnh đạo cần tránh trong thời điểm nhiều rủi ro

Chúng ta không sống trong thế giới mà các cuốn sách phổ biến về quản trị rủi ro vẽ ra cho chúng ta viễn cảnh có thể nhìn thấy được. Những nhà lãnh đạo không thể dự đoán tương lai, điều duy nhất chúng ta có thể làm để giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất là tránh mắc những sai lầm.

6 sai lầm các nhà lãnh đạo thường mắc phải là:

Cho rằng chúng ta có thể quản lý rủi ro bằng cách dự đoán các sự kiện cực đoan

 

Đây là sai lầm tệ hại nhất mà các nhà lãnh đạo mắc phải. Thứ nhất, dữ liệu lịch sử cho thấy việc dự đoán các sự kiện “Thiên nga đen” hiếm khi chính xác. Thứ hai, khi tập trung sự chú ý vào một vài kịch bản cực đoan, những nhà lãnh đạo bỏ qua các khả năng khác, sẽ hiệu quả hơn khi tập trung vào hậu quả – nghĩa là đánh giá tác động tiềm năng của các sự kiện cực đoan. 

Chúng ta sẵn sàng mua bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, xe hơi, nhà cửa và những thứ tương tự. Có ai mua một ngôi nhà rồi sau đó mới kiểm tra chi phí bảo hiểm không? Hiển nhiên là bạn quyết định mua nhà khi đã tính đến chi phí bảo hiểm. Tuy nhiên, trong kinh doanh, chúng ta lại coi bảo hiểm là một lựa chọn. Nhưng các công ty cần phải sẵn sàng giải quyết hậu quả và mua bảo hiểm là để phòng ngừa rủi ro cho mình.

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta hành động theo những cách cho phép ta chịu đựng được tác động của các sự kiện Thiên nga đen. Chúng ta không cố gắng tính toán xác suất xảy ra các sự kiện, mà chỉ quan tâm đến việc liệu mình có thể đối phó với hậu quả nếu chúng xảy ra hay không.Vì vậy, thay vì tập trung vào việc dự đoán rủi ro thì hãy dành thời gian để tìm ra những giải pháp thực sự giải quyết được chúng. 

Tin chắc rằng việc nghiên cứu quá khứ sẽ giúp chúng ta quản lý rủi ro

 

Các nhà quản trị rủi ro thường sai lầm khi sử dụng những việc đã xảy ra để dự báo tương lai. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy những sự kiện trong quá khứ không liên quan gì đến các cú sốc trong tương lai. 

Thế chiến I, các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 – những sự kiện lớn như thế thường không có tiền lệ. Điều này cũng đúng với những thay đổi về giá. Cho đến cuối những năm 1980, mức giảm giá cổ phiếu tồi tệ nhất trong một ngày là khoảng 10%. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 10 năm 1987, giá sụt giảm tới 23% và tất nhiên trong tương lai sẽ còn hơn thế nữa. Tại sao người ta lại mong đợi sau này mức giảm giá chỉ dừng ở 23%? Lịch sử có thể rất tốt nhưng nó cũng đáng lừa chúng ta.

Hẳn là người dân thời Thế chiến I đã  không tính đến tính ngẫu nhiên vốn có trong nhiều biến số kinh tế. Có hai loại, trong đó sự ngẫu nhiên của nền kinh tế-xã hội ít tính cấu trúc và khó kiểm soát hơn những sự ngẫu nhiên bạn gặp trong sách vở về thống kê và ở những ván bài may rủi. Nó gây ra hiệu ứng “được ăn cả”, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

  •  Chưa đến 0,25% tổng số công ty niêm yết trên thế giới chiếm giữ khoảng một nửa giá trị vốn hóa thị trường.
  •  Chưa đến 0,2% số sách chiếm khoảng một nửa doanh số bán hàng của ngành sách. Cụ thể thì những đầu sách quản trị HBR luôn nằm trong top doanh thu của Alpha Books. 
  • Chưa đến 0,1% thuốc tạo ra hơn một nửa doanh số bán hàng của ngành dược phẩm – và không tới 0,1% các sự kiện rủi ro sẽ gây ra ít nhất một nửa tổn thất của bạn.

Do sự ngẫu nhiên về kinh tế xã hội, chúng ta không thể dự đoán kinh tế công ty trong tương lai chỉ bằng cách điều tra quá khứ. Chúng ta phải dự đoán cả về tính sự kiện và mức độ ảnh hưởng của nó, điều này rất khó vì các tác động thường khác biệt trong những hệ thống phức tạp. Ngay cả khi các công ty tin vào thành công, chúng ta cũng đánh giá thấp doanh số tới 22 lần! Vậy nên hãy nhớ dự đoán những thay đổi lớn chỉ bằng cách nghiên cứu quá khứ gần như là không thể.

Không lắng nghe lời khuyên về những gì chúng ta không nên làm

 

Những lời khuyên dưới dạng “không nên làm” thường thẳng thừng hơn “nên làm”. Ví dụ, bảo ai đó không hút thuốc sẽ có tác dụng hơn bất kỳ lời khuyên nào bạn có thể đưa ra liên quan đến sức khỏe.

Tương tự, nếu các ngân hàng ở Mỹ chú ý đến lời khuyên không tích tụ nhiều rủi ro từ các sự kiện có khả năng xảy ra nhỏ nhưng gây tác động lớn, ngày nay chúng ta sẽ không suýt vỡ nợ, dù trước đây chúng ta có thể phải chấp nhận lợi nhuận thấp hơn.

Coi thường những lời khuyên “không nên làm” khiến các công ty coi quản trị rủi ro là một hoạt động không liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận

Các nhà tâm lý chúng ta phân biệt giữa hành động và không hành động. Dù tác động của chúng là như nhau về mặt kinh tế – 1 đô-la không mất đi là 1 đô-la kiếm được – các nhà quản trị rủi ro không đánh đồng chúng. Họ chú trọng vào kiếm lợi nhuận hơn là tránh thua lỗ. Tuy nhiên, một công ty có thể thành công bằng cách ngăn ngừa thua lỗ trong khi các đối thủ phá sản – sau đó chiếm thị phần từ chúng ta.

Việc coi thường những lời khuyên “không nên làm” như vậy khiến các công ty coi quản trị rủi ro là một hoạt động không liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận, và là một vấn đề có thể quan tâm sau. Thay vào đó, công ty nên đưa hoạt động quản lý rủi ro vào các bộ phận kinh doanh và coi đó cũng là hoạt động tạo ra lợi nhuận, đặc biệt là đối với những công ty dễ bị ảnh hưởng bởi các sự kiện Thiên nga đen.

Giả định rằng rủi ro có thể được đo lường bằng độ lệch chuẩn

Độ lệch chuẩn – được sử dụng rộng rãi trong tài chính như một thước đo rủi ro đầu tư – không nên được sử dụng trong quản trị rủi ro. Độ lệch chuẩn, hay độ lệch tiêu chuẩn là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số. Có thể tính ra độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai.

Các nhà quản trị rủi ro nên tránh sử dụng những phương pháp và biện pháp liên quan đến độ lệch chuẩn như mô hình hồi quy, bình phương R và hệ số beta.Người ta vẫn hiểu rất ít về độ lệch chuẩn. Ngay cả các nhà phân tích định lượng cũng chưa chắc hiểu đủ khái niệm này.

Trong những thí nghiệm được thực hiện vào năm 2007, chúng tôi đã cung cấp cho một nhóm nhà phân tích biến động giá trung bình của một cổ phiếu (độ lệch tuyệt đối trung bình), và chúng ta nhanh chóng nhầm lẫn nó với độ lệch chuẩn khi được yêu cầu thực hiện một số phép tính. Khi các chuyên gia cũng nhầm lẫn, người bình thường khó mà hiểu đúng. Trong mọi trường hợp, bất kỳ ai tìm kiếm một con số duy nhất biểu thị rủi ro đều sẽ đem tới thảm chúng ta.

Không hiểu rằng những thứ tương đương về mặt toán học lại không tương đương về mặt tâm lý

Nhà vật lý Richard Feynman đã viết rằng hai công thức tương đương về mặt toán học có thể không bằng nhau đối với tâm trí con người theo những cách khác nhau. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cách trình bày về một rủi ro ảnh hưởng đến cách hiểu của mọi người về rủi ro đó. Nếu bạn nói với các nhà đầu tư rằng trung bình sau 30 năm, chúng ta sẽ mất hết tiền thì có nhiều khả năng chúng ta sẽ đầu tư hơn là khi bạn nói rằng có 3,3% khả năng chúng ta sẽ mất một số tiền nhất định mỗi năm.

Điều này cũng đúng với việc đi máy bay. Chúng tôi hỏi những người tham gia một cuộc thử nghiệm: “Bạn đang đi nghỉ ở nước ngoài và đang cân nhắc sử dụng hãng hàng không quốc gia để thăm một hòn đảo đặc biệt mà mình luôn muốn tới. Thống kê an toàn ở đất nước này cho thấy nếu bạn sử dụng hãng hàng không này mỗi năm một lần thì trung bình cứ 1.000 năm lại có một vụ tai nạn. Nếu bạn không thực hiện chuyến đi, rất ít khả năng bạn sẽ có dịp thăm lại vùng đất này. Vậy bạn có đi không?” Tất cả những người được hỏi đều nói rằng chúng ta sẽ đi. 

Sau đó, chúng tôi đưa ra câu thứ hai với nội dung: “Thống kê an toàn cho thấy trung bình cứ 1.000 chuyến bay thì có một chuyến bay của hãng hàng không này gặp sự cố.” Chỉ 70% số người được hỏi cho biết chúng ta sẽ thực hiện chuyến bay. 

Trong cả hai trường hợp, xác suất va chạm đều là 1 trên 1.000, công thức thứ hai đơn giản là nghe có vẻ rủi ro hơn.  Đưa ra một tình huống tối ưu thường làm tăng nhận thức của chúng ta về rủi ro hơn. Hãy luôn tìm kiếm những cách thể hiện rủi ro khác nhau để đảm bảo bạn không rơi vào cái bẫy tâm lý hoặc toán học.

Cho rằng hiệu quả và tối đa hóa giá trị của cổ đông nghĩa là không được phép dư thừa

Hầu hết những lãnh đạo không nhận ra rằng việc tối ưu hóa khiến các công ty dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của môi trường.

Sự tiến hóa tự nhiên của con người đã cho chúng ta những bộ phận dự phòng, tưởng như hơi dư thừa – chẳng hạn như hai lá phổi và hai quả thận – lại giúp chúng ta tồn tại. Trong các công ty, sự dư thừa được cho là kém hiệu quả rõ ràng: năng lực nhàn rỗi, các bộ phận không được dùng tới và tiền không được đưa vào hoạt động. Ở phía ngược lại là đòn bẩy, là điều tốt như chúng ta vẫn được dạy. Nhưng không phải vậy, vay nợ để tối ưu hóa đầu tư sẽ khiến các công ty và nền kinh tế  trở nên mong manh. Nếu được sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ lớn, bạn có thể phá sản nếu bỏ lỡ dự báo bán hàng, thay đổi lãi suất hoặc các rủi ro khác bất ngờ phát sinh. Và nếu không gánh nợ, bạn có thể đối phó tốt hơn với những thay đổi.

Ngoài ra chúng ta không nên thưởng cho những người quản lý các tổ chức mang nhiều rủi ro như nhà máy hạt nhân và ngân hàng. Có khả năng là họ sẽ làm tắt để tối đa hóa lợi nhuận. Xã hội giao nhiệm vụ quản lý rủi ro lớn nhất cho quân đội, nhưng binh lính không nhận được tiền thưởng.

Và trên hết cả 6 điều trên, những nhà lãnh đạo cần phải hiểu được là rủi ro lớn nhất luôn nằm trong chính bản thân chúng ta. Chúng ta đánh giá quá cao khả năng của mình và đánh giá thấp những gì có thể xảy ra. Nếu những nhà lãnh đạo và các công ty, doanh nghiệp muốn tồn tại trong thời đại rủi ro này thì nhất thiết phải tránh 6 sai lầm trên. Công ty nào không ý thức được về gót chân Achilles của mình chắc chắn sẽ chết vì nó.

Nguồn: Bài viết của Nassim N. Taleb, Daniel G. Goldstein, Mark W. Spitznagel, HBR Onpoint Quản lý rủi ro 

Trả lời

LET'S GO
SUBSCRIBE
awesome
Sed ut perspiciatis unde omnis